Đạo giáo trong tiến trình lịch sử văn hoá Việt Nam không chỉ hiện diện qua kinh điển hay khoa nghi, mà còn thông qua các cuộc đời của đạo sĩ, đạo nhân. Họ được xem là những người kết nối giữa tri thức tôn giáo và tín ngưỡng dân gian; khát vọng trường sinh và lý tưởng cứu độ.
Triều Đinh, “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” chép lại, năm Tân Mùi, tức năm Thái Bình thứ hai (971), đạo sĩ Đặng Huyền Quang được ban chức vị Sùng Chân Uy Nghi. Lần đầu tiên trong lịch sử, Đạo giáo được chính thức định chế hóa vào bộ máy nhà nước phong kiến, giữa những bậc quốc trụ như Định Quốc Công Nguyễn Bặc, Đô Hộ Phủ Sĩ Sư Lưu Cơ, Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn và Khuông Việt đại sư. Đây là cột mốc khẳng định Đạo giáo không còn là những mảnh ghép tản mạn trong dân gian mà đã trở thành một hệ tư tưởng song hành cùng Phật giáo và Nho giáo, góp phần xây dựng nền tảng quản trị quốc gia sơ khởi.
Triều nhà Lý, Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) đồng thời phát triển, dung hoà và tác động dưới chủ trương “Tam giáo đồng nguyên”. Trong số các đạo sĩ, có những gương mặt nổi bật còn được sử sách ghi lại như: đạo sĩ Trần Tuệ Long (Quán Nam Nhạc) nhận áo ngự ban năm 1027, biểu trưng cho sự trân trọng của quân vương đối với giới tu đạo; Trí Không (1031) là người đặt nền móng quản lý nhân sự Đạo giáo khi tâu xin chế độ “ký lục” tại cung Thái Thanh, giúp chính quy hóa việc tu hành. Ngoài ra còn có Phùng Tá Khang, cha Phùng Tá Chu, làm chức Tả Nhai Đạo Lục, tước Tả Lang. Thời bấy giờ, vương hầu bổ quan tăng nhân, đạo sĩ gọi là Tả Nhai. Có thể hiểu, Tả Nhai là phẩm cao nhất của tăng nhân và đạo sĩ.
Đặc biệt, dưới triều Lý Nhân Tông, Giác Hải thiền sư và Thông Huyền đạo nhân là hai người được vua trọng vọng. Trong bài “Tán Giác Hải thiền sư, Thông Huyền đạo nhân”, vua Lý Nhân Tông ca ngợi: "Thần thông kiêm biến hóa; Nhất Phật, nhất Thần tiên”. Hình ảnh Thông Huyền đạo nhân cùng thiền sư Giác Hải hầu chuyện nhà vua trên tảng đá cổ, dùng thần chú điều phục linh vật, đã trở thành biểu tượng tuyệt đẹp cho tinh thần hòa hợp tôn giáo thời Lý.
Dưới thời Trần, tranh vẽ “Trúc Lâm Đại Sĩ Xuất Sơn Đồ”, có bài dẫn của Trần Quang Chỉ nói: “Có đạo sĩ Trung Quốc là Lâm Thời Vũ, tháp tùng Đại Sĩ, thăm thú các nơi, có lúc viễn du, giáo hoá, tế độ nước láng giềng”. Lại có bài ký của DƯ Đỉnh rằng: “Nay bức hoạ miêu tả lúc ông [Trần Nhân Tông] từ động Vũ Lâm xuất du. Đại sĩ ngồi trên cáng, các tuỳ tùng khoác áo tăng. Voi trắng chở kinh đi sau cùng. Phía trước voi có người đội hoàng quan, cưỡi trâu, ấy là đạo sĩ Lâm Thời Vũ”.
Một đạo sĩ khác là Huyền Vân, người Chí Linh, sống ẩn ở chùa Lệ Kỳ, Ngao Sơn để luyện đan. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” có ghi chép về sự kiện Dụ Tông hoàng đế mời đạo sĩ ở núi Yên Tử về kinh thành hỏi phép tu luyện: “Mùa đông, tháng 10 [năm 1368], cho mời đạo sĩ Huyền Vân ở núi Chí Linh đến kinh để hỏi về phép tu luyện. Ban cho động của đạo sĩ tên là Huyền Thanh động”.
Lại có đạo sĩ Hứa Tông Đạo, người làng Hải Đàn, hương Thái Bình, huyện Phúc Thanh, Phúc Châu, lộ Phúc Kiến, nước Tống, chưa rõ năm sinh năm mất, đến lập nghiệp ở Đại Việt vào đời Trần Thái Tông. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” có ghi: “[Năm 1302] bấy giờ có người đạo sĩ phương Bắc là Hứa Tông Đạo theo thuyền buôn sang ta, cho ở bến sông Yên Hoa. Phép phù thủy đàn chay bắt đầu thịnh hành từ đó”. Ông được Trần Nhật Duật thu dùng làm môn khách và thường cùng đàm đạo về Đạo giáo. Năm 1285, quân Nguyên Mông đánh xuống Đại Việt lần thứ hai, Hứa Tông Đạo đã cắt tóc ăn thề cùng sinh tử với Trần Nhật Duật, sau đó ông tham gia chiến trận, và theo Đại Việt sử ký toàn thư, trong chiến công của Trần Nhật Duật đã có phần đóng góp đáng kể của đạo quân người Tống do Hứa Tông Đạo tổ chức. Sau ngày chiến thắng, Tông Đạo lại trở về với công việc của đạo, ông được giao thừa hành những việc đúc chuông, xây quán, sao chép kinh kệ... Các hoàng thân, công chúa nhà Trần thường góp tiền, vàng, ruộng đất cho các công việc đó của ông. Năm 1321, Tông Đạo đúc quả chuông cho cung Thái Thanh ở quán Thông Thánh, Bạch Hạc và viết bài ký sự thuật lại việc này.
Cuối triều Tây Sơn, sau khi vua Quang Trung mất năm 1792, vua Cảnh Thịnh lên ngôi còn nhỏ tuổi, quyền hành rơi vào tay Bùi Đắc Tuyên. Sự chuyên quyền đã đày quân sư Trần Văn Kỷ làm lính thú, đến Hoàng Giang thì gặp Vũ Văn Dũng từ Bắc trở về Phú Xuân bèn cùng bàn mưu. Vũ Văn Dũng đem quân về giết cha con Bùi Đắc Tuyên và tướng Ngô Văn Sở, nhưng tướng Trần Quang Diệu và tướng Vũ Văn Dũng kình địch nhau. Phan Huy Ích theo lệnh vua Cảnh Thịnh viết chiếu giảng hoà hai phe, sau đó từ 1796, Phan Huy Ích lui về Bích Câu, thành Thăng Long mở Bảo Chân Quán, xưng là Bảo Chân đạo nhân. Trong lời tựa cho "Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh", Phan Huy Ích thể hiện là người thông tuệ cả Tam giáo. Phan Huy Ích có tập thơ “Cúc Thu Bách Vịnh” gồm 50 bài thơ Đường luật không đề tựa. Phan Huy Ích viết những lời nguyên dẫn từng bài thơ. Trong đó có những nội dung thể hiện cuộc trao đổi của Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm (Hải Lượng thiền sư). Điều này cho thấy mối tương giao tốt đẹp giữa hai nhà tư tưởng lớn Việt Nam.
Từ những mảnh ghép lịch sử trải dài qua nhiều thế kỷ, có thể nhận thấy Đạo giáo ở Việt Nam không hiện diện như một dòng chảy biệt lập, mà luôn vận động trong thế đối thoại, tiếp biến và dung hòa với các truyền thống tư tưởng khác. Hình ảnh các đạo sĩ trong lịch sử đã cho thấy Đạo giáo không chỉ trú ngụ trong núi rừng hay đạo quán, mà còn thấm vào chính mạch vận hành của lịch sử, chính trị và văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh ấy, đạo sĩ vừa là người tìm cầu tiêu dao, vừa là trí thức nhập thế, tham dự vào việc trị quốc, an dân, giáo hóa và chữa trị những khủng hoảng tinh thần của thời đại. Sự linh hoạt ấy làm nên bản sắc riêng của Đạo giáo Việt Nam: không cực đoan, không khép kín, mà cởi mở, uyển chuyển, sẵn sàng trở thành “cầu nối” giữa Nho giáo và Phật giáo, giữa lý tưởng trường sinh và khát vọng đắc Đạo.







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét